Home / Văn hay THCS (cấp 2) / Văn hay lớp 8 / Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc

Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc

5 (100%) 3 votes

Áo dài, nón lá từ lâu được xem là biểu tượng trang phục truyền thống của người con gái Việt và là chủ đề được khai thác trong nhiều cuộc thi văn học. Sau đây là những bài văn thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam hay nhất được sưu tập.

Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc
Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc

Đề bài: Em hãy thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam.

Các bài văn thuyết minh nổi bật khác:

Bài văn thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam xuất sắc.

Nhắc tới người con gái Việt Nam, người ta thường liên tưởng ngay tới hình ảnh người con gái với áo dài và nón lá. Chiếc nón lá vừa là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với người phụ nữ vừa là một biểu tượng văn hóa của một nét đẹp nghìn năm văn hiến.

Thật vậy, tại bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam hình chữ S chúng ta đều rất dễ bắt gặp hình ảnh những chiếc nón lá mộc mạc, đơn sơ nhưng nó lại ẩn chứa một vẻ đẹp thuần hậu. Chiếc nón lá không chỉ đơn thuần là vật dụng che mưa che nắng của người phụ nữ chân quê, mà nó còn là món quà tinh thần vô giá của Việt Nam. Bạn bè quốc tế đến thăm hay khách du lịch đến Việt Nam thì đều được tặng những chiếc nón lá như là một kỉ niệm đẹp và để tỏ lòng mến khách của người Việt.

Chiếc Nón lá xuất hiện từ khoảng 2500-3000 TCN và được lưu truyền từ đó cho đến tận ngày nay. Đối với người phụ nữ Việt thì nón lá là một vật dụng quan trọng trong cuộc sống của họ. Trước hết, nón là dùng để che mưa che nắng. Các bà, các mẹ, các chị từ xa xưa đã đội nón lá đi làm đồng, đi chợ và cả đi chơi hội nữa, rồi thì ngày đón con gái dâu về nhà chồng, bà mẹ cũng thường dùng nón lá che cho cô dâu với lời nhắn nhủ yêu thương che trở cho con từ nay.

Không chỉ có tính sử dụng trong thực tế, chiếc nón lá còn hướng tới mục đích làm đẹp, làm duyên cho người phụ nữ Việt. Dưới vành nón lá trắng phau, đôi mắt đen láy, nụ cười chúm chím, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai hay cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, e thẹn, vừa kín đáo lại vừa quyến rũ, mê đắm. Chẳng vậy mà hình ảnh người phụ nữ Việt với áo dài và chiếc nón lá truyền thống luôn xuất hiện tại các cuộc thi sắc đẹp.

Từ trong đời sống thường ngày, chiếc nón lá còn đi vào thơ ca, nhạc họa, gợi nguồn cảm hứng cho nhạc, cho thơ. Đã có không ít những bài hát về chiếc nón lá: “Một chiều làng quê trên đường đê lối nhỏ đi về, nụ cười đưa duyên em thẹn thùng trong nón lá che nghiêng” hay “Một người con gái, đứng nghiêng nghiêng vành nón lá. Đường chiều bờ đê, lối xưa kỉ niệm thiết tha”….  Chiếc nón lá còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần trong thơ: “Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng che”. Thế rồi, trong những năm tháng chiến tranh loạn lạc, lúc tiễn người yêu ra chiến trường, cô gái thường đội nón lá với quai tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi cũng đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển. Chỉ như vậy thôi cũng đã đủ làm yên lòng người chiến sĩ ra trận.

Có thể thấy rằng, xuyên suốt từ bao đời nay, từ trong thực tế cho đến những làn điệu dân ca, những lời thơ, câu văn đều có bóng dáng hình ảnh chiếc nón lá gắn liền với người con gái Việt Nam dịu dàng, duyên dáng. Ngày nay, để tạo ra chiếc nón lá thì người thợ làm nón cần phải có đôi tay khéo léo, có cả tâm tình mới có thể tạo nên được những chiếc nón xinh xăn và thiết kế tỉ mỉ đến như vậy. Nón lá thường được đan bằng các loại lá cây khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá dừa, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón …. Mỗi một chiếc nón thường sẽ có quai đeo làm bằng vải mềm hoặc lụa. Những người thổi được hồn vào những chiếc nón, làm nên những chiếc nón đẹp tinh tế là những người nghệ nhân có đôi bàn tay khéo léo và có tâm tình chan chứa.

Là một biểu tượng của người phụ nữ Việt, chiếc nón lá gắn liền với cả đời sống vật chất và tinh thần của chúng ta. Đi khắp mọi miền đất nước, hình ảnh chiếc nón lá vẫn luôn là hình ảnh chúng ta dễ bắt gặp hơn cả. Đó vừa là nét đẹp bình dị, mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ Việt, vừa là một biểu tượng văn hóa của một đất nước trọng tình trọng nghĩa của nước Nam ta. Biểu tượng ấy đã góp phần làm nên một vẻ đẹp rất Việt Nam.

Bài văn thuyết minh chiếc nón lá đạt điểm cao.

Hình ảnh chiếc nón lá luôn quen thuộc, gần gũi với người phụ nữ Việt Nam từ xưa tới nay, khi nhắc tới chiếc nón lá người ta thường nhớ ngay đến những tà áo dài thướt tha, tới những lời ăn tiếng nói dịu dàng, đậm phong tục tập quán của người Việt Nam, dù đi đâu thì hình ảnh chiếc nón lá vẫn luôn đậm sâu trong trái tim mỗi người, hình ảnh mộc mạc, chân chất lại rất nhiều ý nghĩa, và chiếc nón lá còn là một trong những món quà ý nghĩa mà người dân Việt Nam dành tặng bàn bè Quốc Tế để thể hiển sự thân thiết, yêu mến.

Chiếc nón xuất hiện từ rất lâu rồi, chiếc nón lá luôn là người bạn đồng hành che mưa, che nắng, luôn ở bên những bước hành trang chúng ta đi. Để tạo ra một chiếc nón thì cần sự cầu kỳ, tỉ mỉ, kỳ công của người làm nón, muốn chiếc nón đẹp thì ngay từ  khâu chọn nguyên liệu, rồi khâu từng đường kim mũi chỉ người thợ đã đặt hết tâm tình vào đó để tạo ra những chiếc nón đẹp. Ngoài việc che nắng che mưa thì chiếc nón còn là một phụ kiện làm đẹp rất tuyệt vời, trong những ngày hội dân ca, những ngày hội làng, hay ngày kết hôn của các đôi vợ chồng mẹ chồng trao nón cho con dâu, chiếc nón đều có mặt và tạo nên nét duyên dáng của phụ nữ Việt Nam, chiếc nón thay cho bao nhiêu lời nhắn gửi yêu thương, trong thơ văn chiếc nón là cảm hứng của rất nhiều nhà văn, nhà thơ….

” Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng tre”, qua hình ảnh nón lá trong câu thơ là hình ảnh người mẹ tần tảo, chịu thương chịu khó.  Thời chiếc tranh các cô gái thường đội nón quai màu tím tiễn người yêu ra chiến trường thể hiện sự chung thủy, sắc son, như thay một lời hẹn ước sẽ đợi người yêu chiến thắng trở về, thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam.

Các loại lá như lá cọ, lá du quy diệp, lá cối, lá rơm, lá tre, lá dứa… đều có thể làm nón được, ở mỗi vùng miền khác nhau thì kiểu dáng của chiếc nón cũng khác nhau, người miền Bắc có nón quai thao khi dự các lễ hội, ở Huế thì có nón bài thơ, ở Bình Định có nón Gò Găng, quai nón thường được làm bằng nhung, lục, hay the, với những màu sắc đẹp và tươi tắn, làm nổi bật thêm vẻ đẹp của chiếc nón, làm tăng lên độ duyên dáng của người phụ nữ khi đội nón, hình ảnh chiếc nón giống như người phụ nữ Việt Nam, không chỉ đẹp ở từng chi tiết mà còn thể hiện ở phần dáng nón, những người thợ khâu nón đã làm nên những chiếc nón đẹp, từng đường kim mũi chỉ được người thợ gửi gắm những hình ảnh mang nét đặc trưng truyền thống của dân tộc Việt Nam

Nón lá là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam, là hình ảnh bình dị thân quen với tà áo dài truyền thông của người phụ nữ Việt Nam, chiếc nón là được phổ biến trên khắp đất nước và là nét đặc trưng văn hóa riêng của đất nước Việt Nam, khi bạn bè nước ngoài đến Việt Nam đều muốn trong hành lý của mình mang về có món quà là chiếc nón lá Việt Nam, chúng ta đã quảng bá được vẻ đẹp của đất nước của con người thông qua hình ảnh những cô gái mặc áo dài thướt tha đội nón lá.

Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc
Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam hay

Chiếc nón lá là hình ảnh bình dị, quen thuộc gắn liền với tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa đến nay, nhắc đến Việt Nam du khách quốc tế vẫn thường trầm trồ khen ngơị hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt. Chiếc nón lá cũng đã đi vào ca dao, dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của Việt Nam.

Bạn có còn nhớ trong thơ của tác giả Nguyễn Khoa Điềm, chiếc nón lá hiện lên rất tự nhiên, gần gũi:

Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên

Như vậy mới thấy được rằng chiếc nón lá là biểu tượng cho sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt từ ngàn đời nay.

Chiếc nón lá đã ra đời từ rất lâu, khoảng 2500-3000 năm TCN. Lịch sử hình thành và lưu giữ cho đến ngày nay đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm này. Chiếc nón lá hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của người dân việt, đặc biệt là người phụ nữ; hiện diện trong những câu chuyện kể của bà, của mẹ và hiện diện trong các cuộc thi gìn giữ nét đẹp văn hóa.

Nhắc đến nón lá thì chắc chắn mọi người sẽ nghĩ đến ngay đến xứ Huếmông mơ, mảnh đất nên thơ, trữ tình có tà áo dài và nụ cười duyên của cô gái Huế. Huế cũng được biết là nơi sản xuất nón lá với nhiều thương hiệu nổi tiếng. Những làng nghề làm nón lá ở Huế đã thu hút không ít khách du lịch ghé thăm và chọn sản phẩm này làm quà.

Để làm được chiếc nón lá đẹp thì người làm cần phải tinh tế, tỉ mỉ từ khâu lựa chọn nguyên liệu, cách phơi lá, cách khâu từng đường kim mũi chỉ. Người ta vẫn bảo làm ra một chiếc nón lá cần cả một tấm lòng là vì vậy.

Nón lá có thể được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá lại mang đến sự khác nhau cho sản phẩm. Thường thì những sản phẩm nón làm từ lá dừa có nguồn gốc từ Nam Bộ, vì đây là nơi trồng dừa nhiều. Tuy nhiên làm từ lá dừa sẽ không đẹp và tinh tế như lá cọ. Lá cọ có độ mềm mại, chắc chắn hơn. Khi lựa chọn lá cũng phải chọn những chiếc lá có màu xanh, bóng bẩy, có nổi gân để tạo nên điểm nhấn cho sản phẩm. Quá trình phơi cho lá mềm để dễ làm cũng cần từ 2-4 tiếng, lá vừa mềm vừa phẳng.

Khâu làm vành nón là khâu vô cùng quan trọng để tạo khung chắc chắn cho sản phẩm. Người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm và dẻo dai. Khi chuốt tre thì cần phải chuốt tỉ mỉ để đến khi nào có thể uốn cong mà không sợ gãy. Sau đó người dùng sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn.

Khi đã tạo khung và chuẩn bị lá xong đến giai đoạn chằm nón. Đây là giai đoạn giữ cho khung và lá bám chặt vào nhau. Thường thì người làm sẽ chằm bằng sợi nilong mỏng nhưng có độ dai, màu trắng trong suốt.

Lúc chiếc nón đã được khâu xong thì người dùng bắt đầu quết dầu làm bóng và phơi khô để dầu bám chặt vào nón, tạo độ bền khi đi nắng mưa.

Đi dọc miền đất nước, không nơi nào chúng ta thấy sự hiện diện của chiếc nón lá. Nó là người bạn của những người phụ nữ khi trời nắng hoặc trời mưa. Không chỉ có công dụng che nắng, che mưa mà nón lá còn xuất hiện trong các tiết mục nghệ thuật, đi đến các nước bạn trên thế giới. Nét đẹp văn hóa của nón lá chính là nét đẹp cần được bảo tồn và gìn giữ. Nhắc đến nón lá, chắc chắn chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tà áo dài Việt Nam, bởi rằng đây là hai thứ luôn đi liền với nhau, tạo nên nét đặc trung riêng của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời nay.

Để giữ chiếc nón lá bền với thời gian thì người dùng cần phải khéo léo, bôi dầu thường xuyên để tránh làm hỏng hóc, sờn nón.

Chiếc nón lá Việt Nam là sản phẩm của người Việt, làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ, và khẳng định sự tồn tại lâu đời của sản phẩm này.

Thuyết minh về chiếc nón lá 

Nhắc đến người con gái Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay tới hình ảnh người con gái với áo dài và nón lá. Chiếc nón lá vừa là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với người phụ nữ vừa là một biểu tượng văn hóa của một nét đẹp nghìn năm văn hiến.

Thật vậy, ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam chúng ta đều rất dễ bắt gặp hình ảnh những chiếc nón lá mộc mạc, đơn sơ nhưng nó lại ẩn chứa một vẻ đẹp thuần hậu. Không chỉ đơn thuần là vật dụng che mưa che nắng của người phụ nữ chân quê, mà nó còn là món quà tinh thần ý nghĩa của Việt Nam. Bạn bè quốc tế đến thăm hay khách du lịch đến Việt Nam thì đều được tặng những chiếc nón lá như là một kỉ niệm đẹp và để tỏ lòng mến khách của người Việt.

Nón lá xuất hiện từ khoảng 2500-3000 TCN và được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Đối với người phụ nữ Việt thì nón lá là một vật dụng quan trọng trong cuộc sống của họ. Trước hết, nón là dùng để che mưa che nắng. Các bà, các mẹ, các chị từ xa xưa đã đội nón lá đi làm đồng, đi chợ và cả đi chơi hội nữa. Ngày tiễn con gái về nhà chồng, bà mẹ cũng thường trao cho con chiếc nón lá với bao lời nhắn gửi yêu thương.

Không chỉ có tính sử dụng trong thực tế, chiếc nón lá còn hướng tới mục đích làm đẹp, làm duyên cho người phụ nữ Việt. Dưới vành nón lá trắng phau, đôi mắt đen láy, nụ cười chúm chím, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai hay cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, e thẹn, vừa kín đáo lại vừa quyến rũ, mê đắm.

Từ trong đời sống thường ngày, chiếc nón lá còn đi vào thơ ca, nhạc họa, gợi nguồn cảm hứng cho nhạc, cho thơ. Đã có không ít những bài hát về chiếc nón lá: “Một chiều làng quê trên đường đê lối nhỏ đi về, nụ cười đưa duyên em thẹn thùng trong nón lá che nghiêng” hay “Một người con gái, đứng nghiêng nghiêng vành nón lá. Đường chiều bờ đê, lối xưa kỉ niệm thiết tha”…  Chiếc nón lá còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần trong thơ: “Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng che”. Thế rồi, trong những năm tháng chiến tranh loạn lạc, lúc tiễn người yêu ra chiến trường, cô gái thường đội nón lá với quai tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi cũng đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển. Chỉ như vậy thôi cũng đã đủ làm yên lòng người ra trận.

Có thể thấy rằng, xuyên suốt từ bao đời nay, từ trong thực tế cho đến những làn điệu dân ca, những lời thơ, câu văn đều có bóng dáng hình ảnh chiếc nón lá gắn liền với người con gái Việt Nam dịu dàng, duyên dáng. Ngày nay, để tạo ra chiếc nón lá thì người thợ làm nón cần phải có đôi tay khéo léo, có cả tâm tình mới có thể tạo nên được những chiếc nón xinh xăn và thiết kế tỉ mỉ đến như vậy. Nón lá thường được đan bằng các loại lá cây khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá dừa, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón v.v. Mỗi một chiếc nón thường sẽ có quai đeo làm bằng vải mềm hoặc lụa. Những người thổi được hồn vào những chiếc nón, làm nên những chiếc nón đẹp tinh tế là những người thực sự có đôi bàn tay khéo léo và có tâm tình chan chứa.

Là một biểu tượng của người phụ nữ Việt, chiếc nón lá gắn liền với cả đời sống vật chất và tinh thần của chúng ta. Đi khắp miền đất nước, hình ảnh chiếc nón lá vẫn luôn là hình ảnh chúng ta dễ bắt gặp hơn cả. Đó vừa là nét đẹp bình dị, mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ Việt, vừa là một biểu tượng văn hóa của một đất nước trọng tình trọng nghĩa của nước Nam ta. Biểu tượng ấy đã góp phần làm nên một vẻ đẹp rất Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá điểm cao

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết trong bài thơ Đan nón rằng:

“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Cùng với hình ảnh của chiếc áo dài Việt Nam thì chiếc nón lá cũng đi vào văn chương một cách tự nhiên mộc mạc như thế. Có thể nói nó mộc mạc như chính những vật liệu và con người làm ra nó vậy. Đặc biệt là nó cũng đã trở thành một nét đặc trưng của con người ViỆT Nam. Nếu như phương Tây có mũ gắn hoa, gắn lông chim, nhưng chiếc mũ mấn, miện xinh xinh thì quê hương ta có chiếc nón lá với vẻ mộc mạc giản dị nhưng lại đằm thắm dịu dàng.

Trước hết là về nguồn gốc của chiếc nón lá mộc mạc ấy. Cũng giống như những vật dụng lâu đời khác thì nón lá cũng có một cuộc đời với nhiều lần thay đổi. Hình ảnh của chiếc nón lá đầu tiên được khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng đào Thịch vào khoảng 2000 – 3000 năm trước công nguyên. Không những thế hình ảnh chiếc nón lá còn được thể hiện trong đời sống của con người chúng ta từ xa xưa. Đó là hình ảnh những con người Việt nam với chiếc nón che cho con những ngày mưa đạn, nắng sương. Đó còn là hình ảnh những người mẹ người bà đi chợ đội chiếc nón trên đầu hay những lúc nắng đem ra quạt mát. Hay hình ảnh những cô thiếu nữ với chiếc áo dài tha thướt trên con phố nhỏ đầu đội nón lá nghiêng nghiêng. Hiện nay thì vẫn còn rất nhiều nơi làm nón lá mà nổi tiếng như là Huế, Phú Vang, Hương Thủy…đặc biệt chính những sản phẩm ấy là một điểm thu hút khách nước ngoài.

Nguyên vật liệu để làm ra chiếc nón lá Việt nam cũng rất mộc mạc sẵn có trong cuộc sống đời thường. Và để làm ra những chiếc nón lá đẹp thì đòi hỏi con người phải có một bàn tay khéo léo.

Nguyên liệu thứ nhất cần phải có là những chiếc lá cọ hoặc lá dừa. Người miền Bắc thì dùng lá cọ còn người miền Nam thì dùng lá dừa. Những chiếc lá dài và đẹp sẽ được chọn sau đó được phơi khô đi. Đối với lá dừa vì mỏng hơn lá cọ cho nên làm dù chọn lọc kĩ càng đến mức nào thì cũng không chắc chắn và đẹp như nón làm bằng lá cọ được. Lá dừa sau khi phơi khô thì được ngâm trong lưu huỳnh để dai hơn và sau đó làm nón. Còn lá cọ thì phải chọn những chiếc lá non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá phải trắng xanh thì khi làm nón mới đẹp được. Và sau đó người ta sẽ đem phơi sương cuối cùng là làm nón.

Nếu như lá là “phần thịt” để làm nên nón thì khung là “phần xương” nâng đỡ làm nên hình của một chiếc nón. Khung nón bao gồm vành nón và những thanh nón dọc và ngang để làm nên một chiếc nón lá hoàn chỉnh. Khung nón làm bằng tre. Vành nón có vai trò là tạo nên miệng nón hình tròn cố định những chiếc lá và thanh tre dọc. Chính vì thế mà người nghệ nhân phải có sức khỏe và sự khéo léo để làm có thể uốn cho vành nón hinh tròn. Tiếp đến là những thanh tre xếp dọc và chụm đầu trên với nhau thành hình chóp, phần còn lại gắn với phần vành nón. Công việc tiếp theo là xếp những chiếc lá sít lại với nhau và dùng những thanh tre mềm thành hình tròn giống như vành nón. Mỗi vòng tròn cách nhau nửa gang tay. Sau đó thì được khâu chỉ lại cố định. Phần đặc biệt là chúp nón thì người nghệ nhân sẽ khâu chỉ cho chắc chắn hơn, chỉ đỏ rất đẹp. Đồng thời bên trong nón người ta sâu lại những nhánh chỉ để làm thành chỗ buộc quai nón. Những chiếc quai nón màu mè đủ kiểu có thể tùy do người mua chọn. Không những thế mà bên trong người ta còn có thể thêu những dòng chữ bằng chỉ đỏ chỉ xanh, có thể thêu theo tên người đặt mua hoặc là những tên hay. Công việc tưởng chừng đã xong xuôi nhưng lại không phải. Mà công đoạn cuối cùng cũng rất quan trọng đó là quết nhựa thông để cho nón chắc chắn và không thấm nước, bóng đẹp hơn.

Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc
Những bài văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc

Công dụng của nón lá thì ai trong những con người Việt Nam chúng ta đều biết. Đó là giúp cho chúng ta tránh được mưa gió, sương muối. Đồng nghĩa với việc nó trở thành những người bạn thân thiết của những con người Việt nam nhất là những người nông dân đi ra đồng. Không biết trời nắng mưa hay râm mát thế cho nên những chiếc nón lá sẽ giúp cho người nông dân bảo vệ được đầu mình trước những hiện tượng khắc nghiệt của thiên nhiên. Hay trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm thì chiếc nón lá ấy còn để cho những người mẹ che chở cho con mình, những người vợ, người phụ nữ lấy nón che những tài liệu mật của cơ quan cách mạng. Và đến thời bình ngày nay ngoài những công dụng ấy thì chiếc nón lá còn tôn vinh lên vẻ đẹp của những người con gai Việt nam thướt tha trong tà áo dài. Có lẽ thế mà nón lá cũng đi vào thơ ca và âm nhạc một cách tự nhiên giản dị.

Không chỉ biết dùng mà chúng ta còn cần phải biết cách bảo quản nó. Muốn nón lá được bền lâu chỉ nên đội khi trời nắng, tránh đi mưa. Sau khi dùng nên cất vào chỗ bóng râm, không phơi ngoài nắng sẽ làm cong vành, lá nón giòn và ố vàng làm làm mất tính thẩm mĩ và giảm tuổi thọ của nón.

Như vậy qua đây ta thấy được hết quá trình làm nên một chiếc nón lá Việt nam đồng thời là ý  nghĩa vai trò của nó với cuộc sống vật chất và văn hóa của chúng ta. Mỗi chúng ta phải cảm thấy tự hào vì những gì của cha ông để lại đồng thời cùng nhau giữ gìn nét văn hóa truyền thống hóa ấy mãi lâu đời.

 Tìm kiếm từ khóa nhiều trên google: Nón lá, Nón lá Việt Nam, văn thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam, thuyết minh về chiếc nón lá, vẻ đẹp nón lá , thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam hay.

Bài viết: Những bài văn thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam chọn lọc.

 

About luongnn

Check Also

Ngữ văn lớp 8 – Thuyết minh về chiếc quạt điện hay và độc đáo

3.5 (70%) 2 votes Chiếc quạt bàn là vật dụng không thể thiếu của chúng ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *